Viet NamEnglish
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN



HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Yahoo Chat
Call
FOREXTRADING24H
Yahoo Chat
FOREXGOLD24H
Yahoo Chat
FOREXSMS24H
 
SẢN PHẨM

HOẠT ĐỘNG FOREX




 
THỐNG KÊ TRUY CẬP
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay194
mod_vvisit_counterHôm qua287
mod_vvisit_counterTrong tuần639
mod_vvisit_counterTrong tháng14970
mod_vvisit_counterTất cả10150116
Đang online : 27 

PostHeaderIcon Tin ngày 23/05/2011 : Vì sao tỷ giá USD/VND tăng trở lại?

Mối liên hệ trái chiều giữa lãi suất liên ngân hàng và tỷ giá được tái hiện. Khi lãi suất liên ngân hàng hạ, tiền đồng giảm sức hấp dẫn và nhiều ngân hàng thương mại sẽ có nhu cầu mua nắm giữ USD để quản trị rủi ro. Đặc biệt với những ngân hàng đang giữ trạng thái âm với đồng USD.

 

Tỷ giá và lãi suất liên ngân hàng

Sau một thời gian tăng cao kéo dài, lãi suất bình quân liên ngân hàng đối với tiền đồng đã liên tục suy giảm. Lãi suất qua đêm ngày 19.5.2011 chỉ còn ở mức 12,43%, giảm 0,69% so với ngày 13.5.2011. Lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 12 tháng giảm 1% xuống mức 12,5%. Trong tuần qua, tỷ giá VND/USD cũng thay đổi mạnh. Tính đến ngày 19.5.2011, Vietcombank (VCB) niêm yết tỷ giá ở mức 20.700 – 20.850 VND/USD, tăng 50 đồng so với ngày 17.5.2011 và tăng 90 đồng/USD so với ngày 16.5.2011.

Nguyên nhân khiến cho lãi suất liên ngân hàng giảm

Lãi suất liên ngân hàng giảm bắt nguồn chủ yếu từ việc trong tháng 5.2011, ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã liên tiếp mua vào đồng USD, ước khoảng trên 1 tỉ USD. Điều này đồng nghĩa với việc NHNN đã đưa ra thị trường thông qua các ngân hàng thương mại (NHTM) một lượng tiền xấp xỉ 21 ngàn tỉ đồng. Trong bối cảnh thanh khoản gặp khó khăn do khó huy động từ khu vực dân cư, lượng tiền bơm ra trực tiếp từ NHNN đã giải toả bớt tình trạng căng thẳng tạm thời về vốn. Các NHTM nhỏ tạm thời không phải tìm đến các ngân hàng lớn để vay trên thị trường liên ngân hàng khiến lãi suất giảm.

Nguyên nhân tiếp theo khiến cho lãi suất trên thị trường liên ngân hàng giảm là do việc NHNN nâng mức lãi suất trên thị trường mở. Khi NHNN nâng lãi suất trên thị trường mở, các NHTM lớn sẽ giảm động cơ vay NHNN để sau đó cho các ngân hàng nhỏ vay với lãi suất lớn hơn trên thị trường liên ngân hàng. Điều này khiến cho các NHTM nhỏ có cơ hội vay NHNN được nhiều hơn trên thị trường mở và giảm áp lực phải vay trên thị trường liên ngân hàng.

guyên nhân khác bắt nguồn từ việc thực hiện thông tư 13/2010/TT-NHNN quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng. Theo thông tư này, các NHTM chỉ được phép sử dụng 80% vốn huy động để cho vay; 20% còn lại dành cho ba mục đích dự trữ, đầu tư trái phiếu chính phủ và cho vay liên ngân hàng. Thời điểm hiện tại, nhu cầu dự trữ tại ngân hàng tương đối ổn định do tính chất mùa vụ. Trong quý 2 và quý 3 nhu cầu rút tiền mặt thường không có những đột biến như quý 1 và quý 4, vốn là các tháng cuối năm âm lịch và dương lịch. Trong khi đó đầu tư trái phiếu chính phủ cũng không hấp dẫn. Lượng phát hành thành công trong nửa đầu tháng 5.2011 chỉ đạt khoảng 655 tỉ VND, tiếp nối xu hướng giảm của tháng 4 (1.051 tỉ), tháng 3 (1.514 tỉ), và tháng 2 (2.708 tỉ). Do đó khoản tiền dành cho nghiệp vụ cho vay liên ngân hàng chiếm cơ cấu lớn trong tỉ lệ 20% vốn huy động. Các NHTM có xu hướng cho vay nhiều hơn là đi vay.

Chu kỳ quản lý dự trữ bắt buộc cũng là một nguyên nhân góp phần vào hiện tượng lãi suất liên ngân hàng giảm. Theo quy định của NHNN thì các NHTM phải duy trì tỉ lệ dữ trự bắt buộc với các khoản huy động bằng VND là 3% ( kỳ hạn dưới 12 tháng) và 1% (kỳ hạn 12 tháng trở lên). Tuy nhiên, thời điểm báo cáo là cuối tháng và con số 3% hay 1% là tính trung bình cho cả tháng. Các NHTM thường tận dụng phần dự trữ bắt buộc này để cho vay trên thị trường liên ngân hàng để tìm kiếm lợi nhuận và có xu hướng vay ngược trở lại vào cuối tháng để tạo ra con số trung bình cả tháng đúng quy định của NHNN. Do đó, thường vào giữa tháng, các NHTM có nguồn khá dồi dào và cho vay ra khiến lãi suất giảm hoặc đi ngang trong giai đoạn này.

Tỷ giá khó tăng mạnh

Hiện tượng tỷ giá quay đầu tăng trở lại trong tuần qua xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Trước hết đó là do sự sụt giảm của lãi suất liên ngân hàng như chúng ta đề cập ở trên. Việc lãi suất tiền đồng đi xuống trong khi lãi suất USD về cơ bản không thay đổi khiến cho các NHTM phải thay đổi trạng thái các đồng tiền đang nắm giữ. Đồng USD vì thế được các NHTM ưu tiên mua vào.

Những số liệu về nhập siêu và lạm phát trong tuần qua cũng kích thích các NHTM mua vào ngoại tệ. Theo thông báo mới nhất từ tổng cục Hải quan Việt Nam thì nhập siêu tháng 4 đạt khoảng 1,493 tỉ USD mức cao nhất trong vòng 16 tháng. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 5.2011 hiện đang được thị trường kỳ vọng vào khoảng 2% do CPI tháng 5 ở một số tỉnh thành mặc dù giảm tốc nhưng vẫn ở mức cao. Hà Nội là 1,76%, Đồng Nai (2,23%), Long An (2,35%), TP.HCM (2,38%)... Những con số này cho thấy trong trung hạn, nhu cầu về USD sẽ lớn trong khi nguồn cung lại khan hiếm. Nhiều NHTM Việt Nam tiến hành sớm việc mua ngoại tệ để đáp ứng sự thiếu hụt giữa cung và cầu về ngoại tệ trong những tháng tới.

Mặc dù tỷ giá USD/VND đang có xu hướng tăng trở lại nhưng khó có thể xuất hiện sự tăng nhanh và mạnh như thời điểm cuối năm 2010 và đầu 2011. NHNN vẫn ưu tiên cho mục tiêu kiềm chế lạm phát và giảm nhập siêu. Lãi suất thị trường mở đã tăng lên 15%. Việc NHNN mua USD trong thời gian vừa qua chủ yếu do người dân và một số doanh nghiệp bán ra. Giải pháp kết hối đối với các doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa được thực hiện. Nhiều khả năng việc này vẫn sẽ được NHNN theo đuổi trong thời gian tới sau khi đã chi tiết hoá được các quy định. Nếu lãi suất tiền đồng vẫn được giữ ở mức cao trong khi Nhà nước vẫn còn có cơ hội để tăng nguồn cung thì tỷ giá USD/VND sẽ chưa thể bứt phá tăng mạnh được.

Nguyên Minh Cường

sài gòn tiếp thị

 
Get the Flash Player to see this rotator.
PHẦN MỀM GIAO DỊCH MT4
TIVI ONLINE
Please install Windows Media Player plugin for your browser
Direct link of InfoTV LiveStream
WMP Plugin for Firefox in Windows
TỶ GIÁ NGOẠI TỆ
CHỨNG KHOÁN THẾ GIỚI
GIÁ DẦU THẾ GIỚI
Light Sweer Crude
BIỂU ĐỒ GIÁ VÀNG THẾ GIỚI
Biểu đồ giá vàng thế giới
THÔNG TIN TUYỂN DỤNG
THĂM DÒ Ý KIẾN
Đầu tư vào đâu để tăng lợi nhuận?

LỊCH CÔNG BỐ THÔNG TIN QUAN TRỌNG TRONG NGÀY

Ý NGHĨA CÁC CHỈ SỐ QUAN TRỌNG

Khi theo dõi thông tin công bố hàng ngày trên thị trường tài chính, việc nắm rõ ý nghĩa và tác động của những thông tin này sẽ góp phần không nhỏ đến thành bại của mỗi giao dịch.

* Retail Sales – Doanh số bán lẻ: thống kê giá trị của các hoạt động bán lẻ chính thức (không bao gồm chi tiêu trong dịch vụ). Xu hướng tăng của báo cáo này có tác động tích cực tới đồng tiền của Quốc Gia bởi doanh số bán lẻ thể hiện sức mạnh mua sắm của người tiêu dùng – nhân tố chính tác động tới nền kinh tế và GDP. Các nhà đầu tư thường chú ý theo dõi báo cáo này bởi nó thường là chỉ dẫn đáng kể đầu tiên của tháng đối với các diễn biến của nền kinh tế và của thị trường. Thông tin được lấy từ tháng trước và công bố vào giữa tháng.

* Core Retail Sales – Doanh số bán lẻ lõi: Đo lường tổng giá trị doanh số bán lẻ, không bao gồm doanh số ô tô. Chỉ số tăng tốt cho đồng tiền của quốc gia. Doanh số ô tô chiếm khoảng 20% doanh số bán lẻ và rất dễ biến động, vì thế doanh số bán lẻ lõi được xem là thước đo tốt hơn về xu hướng chi tiêu.

* PPI (Producer Price Index) – Chỉ số giá sản xuất: Đo lường sự thay đổi giá cả của hàng hóa và nguyên liệu thô được mua bởi các nhà sản xuất.Chỉ số tăng cao hơn dự đoán sẽ tốt hơn cho đồng tiền của quốc gia. Đây là chỉ báo hàng đầu cho lạm phát tiêu dùng khi các nhà sản xuất chi trả phí nhiều hơn, họ thường có xu hướng chuyển khoản phí nhiều hơn đó vào giá hàng hóa bán cho người tiêu dùng.

* Core PPI – Chỉ số giá sản xuất lõi: Xuất phát từ chỉ số giá sản xuất (PPI) nhưng loại trừ các hạng mục về thực phẩm và năng lượng. Mặc dù thực phẩm và năng lượng dễ thay đổi từ tháng này qua tháng khác, nhưng nó vẫn đóng một vai trò quan trọng liên quan đến vấn đề lạm phát .Vì vậy PPI lõi thường có ảnh hưởng ít hơn so với chỉ số PPI.

* CPI (Consumer Price Index) – Chỉ số giá tiêu dùng: là thước đo mức độ thay đổi giá cả các loại hàng hóa và dịch vụ đối với người tiêu dùng. Xu hướng tăng lên của chỉ số này có tác động tích cực tới đồng tiền. Mục đích đầu tiên của bất cứ NHTW nào đều là bình ổn giá cả. Khi lạm phát tăng cao hơn tỷ lệ hằng năm xấp xỉ 2% thì các NHTW sẽ tăng lãi suất nhằm kéo lạm phát giảm xuống. Lãi suất tăng cao sẽ thu hút được đầu tư từ nước ngoài, đồng nghĩa với việc nhu cầu đối với đồng nội tệ tăng cao. CPI là một trong những chỉ số quan trọng và thường có những tác động rất mạnh đối với thị trường mỗi khi được công bố.

* Core CPI – Chỉ số giá tiêu dùng lõi: Chỉ số này bắt nguồn từ chỉ số giá tiêu dùng CPI nhưng không bao gồm các hàng thực phẩm và năng lượng. Thực phẩm và năng lượng chiếm 25% CPI nhưng nó vẫn không được tính vào CPI lõi vì nó không ổn định từ tháng này qua tháng khác và có thể bị làm sai lệch.

* TIC Long-Term Purchases –
Luồng vốn giao dịch dài hạn: đo lường sự chênh lệch hàng tháng trong việc mua các chứng khoán trong và ngoài nước. Ví dụ, nếu người nước ngoài mua 100 tỷ USD chứng khoán Mỹ và người Mỹ mua 30 tỷ USD chứng khoán nước ngoài thì chênh lệch giao dịch dài hạn sẽ là 70 tỷ USD. Xu hướng tăng tác động tích cực đến đồng tiền của quốc gia vì người nước ngoài phải quy đổi tiền của quốc gia họ trước khi có thể mua tài sản của một quốc gia. Điều này có tác dụng kích thích nhu cầu tiền tệ. Nhà đầu tư quan sát chỉ số này vì nó giúp cho nhà đầu tư có cái nhìn về dòng chảy tiền tệ quốc tế.

* Building Permits –
Giấy phép xây dựng: Đo lường tổng các giá trị của các giấy phép xây dựng nhà ở mới vừa được đưa ra. Khi chỉ số này tăng nó sẽ tác động tích cực đến đồng tiền của quốc gia đó, bởi vì khi có một giấy phép được đưa ra là một trong những giai đoạn đầu tiên của quy trình xây dựng nhà. Giấy phép xây dựng vì thế cũng giống như các chỉ dẫn cho các nhà đầu hoạt động trong thị trường xây dựng nhà ở. Khi con số này tăng cao nó trở thành những tín hiệu cho nghành công nghiệp xây dựng tăng trưởng và thúc đẩy người ta cấp vốn tăng mức đầu tư vào thị trường này. Quan trọng hơn, hoạt động xây dựng nhà mới sẽ được tạo ra kích thích nền kinh tế phát triển, chủ nhà thì sẽ mua nhiều hàng hóa như là các thiết bị , dung cụ, đồ đạc cho ngôi nhà của mình, còn người xây dựng thì sẽ mua nguyên liệu và thuê mướn nhân công nhiều hơn để thỏa mãn nhu cầu.

* Non-Farm Payrolls – Bảng lương phi nông nghiệp: Đánh giá sự thay đổi số lượng nhân công trong một tháng trước đó ngoại trừ sự thay đổi trong lĩnh vực nông nghiệp.

* Employment Change – Thay đổi việc làm: tính toán số người lao động trong suốt một tháng trước đó. Khi con số này tăng lên tác động tích cực đến đồng tiền của quốc gia đó, sự tăng lên này liên quan chặt chẽ với điều kiện lao động, nó chiếm một tỷ lệ lớn trong GDP. Báo cáo này được đưa ra trong những ngày đầu tiên của tháng, liên quan đến điều kiện lao động chính vì vậy làm cho nó rất nhạy cảm và thường tạo ra những bất ngờ lớn.

* Unemployment Rate –
Tỷ lệ thất nghiệp: tính tỷ lê phần trăm số người không có việc làm và số người đang tìm việc trong tháng vừa qua. Tỷ lệ này giảm sẽ làm cho đồng tiền quốc gia mạnh lên vì khi người dân có việc làm họ sẽ có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn mà đóng góp nhiều hơn cho GDP. Các nhà kinh doanh thường chú ý đến tỷ lệ này vì nó là một dấu hiệu cho thành quả của nền kinh tế trong tương lai.

* Unemployment Claims –
Trợ cấp thất nghiệp: Số người xin trợ cấp thất nghiệp trong tuần trước, được công bố hàng tuần.

* GDP (Gross Domestic Product)
tổng sản phẩm nội địa: là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ trong một một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.

* Trade Balance – Cán cân thương mại: Cán cân thương mại so sánh sự chênh lệch giữa hàng hóa và dịch vụ trong lĩnh vực xuất khẩu và nhập khẩu. Một chỉ số cán cân thương mại tích cực là chỉ số cho thấy sự hiện diện của hàng hóa xuất khẩu với khối lượng nhiều hơn hàng hóa nhập khẩu trong một giai đoạn nhất định. Xu hướng tăng lên của cán cân thương mại có ý nghĩa tích cực đối với đồng tiền của quốc gia. Khi mức độ xuất khẩu cao hơn so với nhập khẩu, lượng hàng bán ra ngoài nước nhiều hơn, điều này khiến cho nhu cầu sử dụng đồng tiền quốc nội tăng lên. Cán cân thương mại cũng có những tác động tích cực tới GDP bởi nhu cầu hàng hóa xuất khẩu nhiều hơn sẽ khiến sản xuất phát triển, tạo ra nhiều việc làm hơn.

* Industrial Production – Sản lượng công nghiệp: đo lường tổng sự thay đổi giá trị sản phẩm đầu ra của các xưởng sản xuất, xí nghiệp, các mỏ… Xu hướng tăng của số liệu này có tác động tích cực tới đồng tiền của quốc gia bởi sản lượng sản xuất ở mức cao là dấu hiệu của một nền kinh tế mạnh. Sản lượng công nghiệp phản ứng nhanh chóng với sự tăng, giảm của vòng tuần hoàn thương mại và có thể là chỉ số hàng đầu của việc làm, thu nhập trung bình và thu nhập cá nhân trong ngành sản xuất. Thông tin được lấy từ tháng trước và công bố vào giữa tháng.

* Manufacturing PMI –
PMI sản xuất: Đo lường mức độ hoạt động mua sắm trong lĩnh vực sản xuất, chỉ số này vượt quá 50 là dấu hiệu cho thấy một lĩnh vực trong nền kinh tế được mở rộng. Chỉ số này tăng lên sẽ làm cho đồng tiền quốc gia mạnh lên. Để đưa ra chỉ số này các nhà quản lý đã nghiên cứu rất nhiều chỉ tiêu : việc làm, sản lượng, các đơn hàng mới, các nhà cung cấp, lượng hàng hóa dự trữ. Các nhà thương mại thường rất chú ý đến chỉ số này vì nó ảnh hưởng lớn đến các công ty của họ. Đây là chỉ tiêu có thể chỉ ra sự thay đổi một lĩnh vực trong toàn bộ nền kinh tế.